KuCoin bước vào thế giới Web3 bằng việc ra mắt một nền tảng ví DeFi phi tập trung, đa chuỗi, hỗ trợ NFT với tên gọi Kucoin Wallet.
KuCoin Wallet hiện đã hoạt động cho người dùng, với nền tảng ban đầu dựa trên trình duyệt, sẽ mở đường cho phiên bản di động đang được phát triển.Nền tảng này kết nối với hệ sinh thái KuCoin và có tính năng tích hợp nhiều blockchain đa dạng.
📢We officially announce the coming launch of #KuCoinWallet, a decentralized crypto wallet by @kucoincom!
🔥The launch of the #KuCoinWallet is a significant endeavor for #KuCoin to deepen the #Web3 exploration.
Người dùng có thể mua, bán, giao dịch và gửi Bitcoin (BTC), Ethereum (ETH) và Tether (USDT) cùng với các token khác. Ngoài ra, lộ trình của KuCoin Wallet sẽ bao gồm việc bổ sung các dịch vụ DeFi, NFT và GameFi trong thời gian sắp tới.
Thị trường NFT độc quyền của KuCoin Windvane sẽ hỗ trợ chức năng này khi ra mắt, cho phép người dùng giao dịch và xem NFT trong KuCoin Wallet. Windvane đã công bố “Quỹ sáng tạo” trị giá 100 triệu USD vào tháng 4 năm 2022 để giúp hỗ trợ và khuyến khích các dự án NFT giai đoạn đầu xây dựng trên nền tảng.
Ngoài ra KuCoin còn huy động thành công 150 triệu USD đầu tư với định giá 10 tỷ USD hồi đầu tháng 5 năm nay. Công ty dự định sử dụng nguồn vốn mới nhất để tiếp tục phát triển phạm vi Web3, DeFi và NFT trong hệ sinh thái của mình.
Từ động thái của KuCoin, có thể thấy được rằng sản phẩm ví Web3 đang dần trở thành một xu hướng được nhiều nền tảng tiền mã hóa nổi tiếng vô cùng quan tâm trong thời gian gần đây, nhằm tăng sự tiện ích cho trải nghiệm người dùng. Đương cử là chỉ hai tuần trước, Coinbase đã tích hợp chức năng Web3 với ví và trình duyệt cho một nhóm khách hàng sử dụng ứng dụng di động được chọn.
Bên cạnh đó, Robinhood cũng vừa ra mắt kế hoạch triển khai ví Web3 hỗ trợ NFT và DeFi toàn diện, đặc biệt cùng ưu điểm khá vượt trội với mức phí giao dịch bằng 0. Đến cả nhà bán lẻ trò chơi truyền thống của Mỹ GameStop đã tiếp bước trào lưu với việc ra mắt ví Ethereum phi lưu ký của riêng mình, tận dụng công nghệ ZK-rollup của Loopring giúp cho các giao dịch trở nên nhanh và tối ưu chi phí hơn.
VST (Virtual USDT) là đơn vị tiền mô phỏng, không có giá trị rút ra, chỉ có thể dùng làm vốn để thực tập mô phỏng giao dịch trên nền tảng BingX.
Cách sử dụng VST
1. Chọn [Tài sản], nhấn [Tài khoản hợp đồng tiêu chuẩn] để tra số dư VST khả dụng. Người dùng mới đăng ký sẽ tự động nhận được 100,000 VST vào tài khoản.
2. Nếu cần yêu cầu thêm VST, vui lòng nhấn [VST] để truy cập trang thông tin chi tiết tài khoản VST và nhấn biểu tượng > bên phải mục VST để yêu cầu. Anh em chỉ có thể yêu cầu thêm khi tổng số tiền VST (bao gồm tài khoản quỹ và tài khoản hợp đồng) < 20,000 VST. Trong vòng 7 ngày chỉ có thể yêu cầu 1 lần.
3. Thao tác giao dịch VST tương tự giao dịch thực tế. Giao dịch hợp đồng và sao chép đều có thể dùng VST để thực hiện. Ngoài ra có thể thực hiện chuyển khoản VST giữa các tài khoản quỹ khác nhau.
4. Nhấn [Đi giao dịch] để truy cập trang giao dịch. Nhấn chọn [Tài khoản VST] ở mục loại tài khoản để sử dụng 100,000 VST thực hiện giao dịch. VST có thể sử dụng cho giao dịch spot, hợp đồng tiêu chuẩn và sao chép giao dịch. VST hỗ trợ tối đa 150 lệnh giữ.
Chú thích về việc sử dụng VST
Người dùng mới đăng ký sẽ tự động nhận được 100,000 VST vào tài khoản.
Để yêu cầu thêm, tổng số tiền VST (bao gồm tài khoản quỹ & tài khoản hợp đồng tiêu chuẩn) phải <20,000 VST. Trong vòng 7 ngày chỉ có thể yêu cầu 1 lần.
Người dùng tham gia cuộc thi giao dịch VST không thể yêu cầu bổ sung thêm VST trong thời gian sự kiện.
Thao tác thực hiện giao dịch VST tương tự giao dịch thực tế. VST có thể dùng cho giao dịch spot, hợp đồng tiêu chuẩn và sao chép giao dịch. VST hỗ trợ tối đa 150 lệnh giữ.
Công dụng chính của giao dịch mô phỏng là giúp người dùng mới làm quen với nhận thức rủi ro và học cách quản lý nó. VST có thể yêu cầu thêm một lần hàng tuần. Tuy nhiên chúng tôi khuyến nghị sử dụng một cách hợp lý. Sử dụng VST trên BingX không đúng cách sẽ không mang lại cho bạn kinh nghiệm giao dịch thực tế.
Một bồi thẩm đoàn lớn đã buộc tội người từng có vị trí giám đốc phát triển sản phẩm của nền tảng giao dịch NFT OpenSea về tội gian lận chuyển tiền và rửa tiền sau một vụ bê bối giao dịch nội gián.
Nathaniel Chastain bị bắt vào sáng thứ Tư tại New York. Hắn dự kiến sẽ trình diện tại Tòa án Quận phía Nam của New York, Hoa Kỳ, theo một thông cáo báo chí hôm thứ Tư từ Bộ Tư pháp.
Chastain trước đây đã bị cáo buộc sử dụng ví Ethereum bí mật để mua trước NFT dựa trên những thông tin bí mật mà chúng dự sẽ sớm được giới thiệu trên trang chủ của OpenSea. Theo cáo trạng, hắn bị cáo buộc chịu về trách nhiệm lựa chọn NFTs nào sẽ được giới thiệu trên trang chủ của OpenSea. Từ khoảng tháng 6 năm 2021 đến tháng 9 năm 2021, hắn đã bán những NFTs này với giá gấp hai đến năm lần giá mua ban đầu ngay sau khi giá trị chúng tăng vọt, theo cáo trạng của DOJ.
Các hành động này được so sánh như là frontrunning và giao dịch nội gián. Hành động bất chính kiểu này sẽ giúp các cá nhân thu lợi từ việc biết trước những thông tin quan trọng, chưa được công khai. Những hành động kiểu này đương nhiên bị cấm trong các thị trường tài chính truyền thống, nhưng không rõ khuôn khổ pháp lý sẽ áp dụng như thế nào đối với không gian NFT.
Cơ quan thực thi pháp luật chỉ ra rằng những luật đó sẽ được áp dụng giống nhau.
Theo luật sư Hoa Kỳ Damian Williams cho biết: “NFTs có thể là mới, nhưng tội phạm kiểu này thì không. Như bị cáo buộc, Nathaniel Chastain đã phản bội OpenSea bằng cách sử dụng thông tin kinh doanh bí mật để nhằm mục đích kiếm tiền bất chính cho bản thân. Việc truy tố lần này thể hiện cam kết của cơ quan nhà nước trong việc ngăn chặn giao dịch nội gián – cho dù nó diễn ra trên thị trường chứng khoán hay blockchain”.
Trợ lý Giám đốc FBI Michael J. Driscoll cho biết FBI sẽ tiếp tục truy lùng ráo riết những kẻ chọn thao túng thị trường theo cách này.
OpenSea đã công bố một bài đăng trên blog vào tháng 9 năm ngoái thừa nhận hành động của Chastain. Đáp lại vụ bắt giữ ngày hôm nay, một phát ngôn viên của OpenSea nói với The Block:
“Là thị trường web3 hàng đầu thế giới dành cho NFT, lòng tin và sự chính trực là cốt lõi cho mọi việc chúng tôi làm. Khi biết được hành vi của Nate, chúng tôi đã bắt đầu một cuộc điều tra và cuối cùng yêu cầu hắn rời khỏi công ty. Hành vi của hắn đã vi phạm chính sách nhân viên và xung đột trực tiếp với các giá trị và nguyên tắc cốt lõi của chúng tôi”.
Binance Labs, quỹ đầu tư mạo hiểm và ươm tạo của Binance, vừa thông báo về việc đóng một quỹ đầu tư mới trị giá 500 triệu đô la. Quỹ được hỗ trợ bởi các nhà đầu tư tổ chức hàng đầu như DST Global Partners và Breyer Capital cùng nhiều bên khác,…
.@BinanceLabs closes a new $500 million investment fund.
Quỹ mới sẽ đầu tư vào các dự án có thể mở rộng việc ứng dụng của tiền điện tử và thúc đẩy việc áp dụng các công nghệ Web3 và blockchain.
Changpeng Zhao ‘CZ’, Người sáng lập và Giám đốc điều hành của Binance, cho biết: “Trong môi trường Web3, sự kết nối giữa các giá trị, con người và nền kinh tế là điều cần thiết và nếu ba yếu tố này kết hợp với nhau để xây dựng một hệ sinh thái, điều đó sẽ thúc đẩy việc áp dụng hàng loạt của công nghệ blockchain và tiền điện tử. Mục tiêu của quỹ đầu tư mới là tìm kiếm, hỗ trợ các dự án và người sáng lập có tiềm năng xây dựng và dẫn dắt Web3 trên DeFi, NFT, trò chơi, Metaverse, mạng xã hội,…”
Kể từ năm 2018, Binance Labs đã đầu tư và ươm tạo hơn 100 dự án từ hơn 25 quốc gia. Danh mục đầu tư gồm các dự án hàng đầu trong ngành như 1inch, Audius, Axie Infinity, Dune Analytics, Elrond, Injective, Polygon, Optimism, The Sandbox và STEPN.
Binance Labs thực hiện đầu tư qua ba giai đoạn khác nhau: ươm tạo (incubation), đầu tư giai đoạn đầu early-stage (early-stage venture) và giai đoạn hậu phát triển (late-stage growth).
Với việc ươm tạo, Binance Labs nhằm mục đích kết nối các dự án với mạng lưới tài nguyên, chuyên gia và cố vấn của Binance để giúp họ thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng sản phẩm thành công. Binance Labs thường xuyên chạy Chương trình ươm tạo – Incubation Program và hiện đang hỗ trợ nhóm cohort thứ tư của mình.
Các khoản đầu tư mạo hiểm giai đoạnđầu bao gồm đầu tư token và vốn cổ phần trên tất cả các lĩnh vực tiền điện tử và Web3 như cơ sở hạ tầng, DeFi, NFT, game, Metaverse, mạng xã hội và tiền điện tử.
Các khoản đầu tư tăng trưởng ở giai hậu phát triển nhắm mục tiêu đến các công ty trưởng thành hơn đang muốn mở rộng quy mô hoặc kết nối vào hệ sinh thái Web3 với hệ sinh thái Binance như một đối tác chiến lược vững chắc.
Quỹ đầu tư 500 triệu USD được công bố hôm nay dự kiến sẽ được phân bổ cho các dự án trải dài cả ba giai đoạn.
Kể từ khi ra mắt mạng chính vào năm 2020, Avalanche đã phát triển thành một hệ sinh thái rộng lớn với hơn 500 dự án đang xây dựng, TVL của hệ có thời điểm lên đến 12 tỉ đô. Với kiến trúc mạng con (subnet) độc đáo và cơ chế đồng thuận, Avalanche là một L1 tương thích với EVM hoặc được gọi là một tổ chức của các mạng không đồng nhất (heterogeneous networks). 2022 tiềm năng sẽ là một năm biến chuyển mình của Avalanche khi các mạng con subnet đạt được nhiều sức hút thật sự.
Trong bài viết này, chúng ta sẽ đi sâu vào công nghệ mạng subnet Avalanche, gồm kiến trúc, ứng dụng và phân tích cạnh tranh về hệ sinh thái của nó.
Tổng quan về Avalanche
Avalanche được thành lập bởi Ava labs, một công ty phát triển phần mềm do Emin Gün Sirerthành lập có trụ sở tại New York.
Mạng lưới đã ra mắt mainnet vào tháng 9 năm 2020. Avalanche có thể xử lý khoảng 4500 giao dịch mỗi giây. Tps của Avalanche có thể khác nhau giữa ba chain tạo nên mạng lưới: Exchain chain (X-Chain) , Platform chain (P-Chain) và Contract chain (C-Chain). Mình sẽ trình bài chi tiết 3 chuỗi này ở phần bài viết bên dưới.
Các vấn đề về khả năng mở rộng của Ethereum
Để hiểu kiến trúc của Avalanche, trước tiên chúng ta nên xem xét vấn đề mở rộng quy mô Ethereum.
Blockchain giống như các thành phố. Hãy tưởng tượng anh em đang sống trong một thành phố chỉ có một số lượng bất động sản hữu hạn. Khi ngày càng có nhiều người đổ xô vào thành phố, nó sẽ trở nên chật chội và nó sẽ kéo giá cả vật chất, không gian sống tăng lên. Điều tương tự cũng xảy ra với blockchain, thay vì không gian sống, các dự án đang cạnh tranh cho không gian khối và thay vì con người trong đó thì ở blockchain là các giao dịch trên chuỗi.
Đối với Avalanche, dự án đưa ra hai cách tiếp cận để giải quyết vấn đề về khả năng mở rộng:
Giải pháp mở rộng quy mô theo chiều dọc: Sự đồng thuận của Avalanche. Avalanche có thể đạt nhanh tới 4500 TPS mà không ảnh hưởng đến phân quyền và bảo mật, điều này khiến nó trở thành một trong những blockchain TOP nhanh nhất và an toàn nhất trong không gian tiền điện tử.
Giải pháp mở rộng theo chiều ngang: Mạng con Avalanche. Thay vì một blockchain nguyên khối, Avalanche nên được xem như một tổ chức của các blockchain được xác thực bởi các mạng con khác nhau. Giải pháp mạng con đã cung cấp cho Avalanche khả năng mở rộng vô hạn, các nhà phát triển có thể khởi động một mạng con của họ trong vòng 12 giờ.
Giải pháp mở rộng quy mô theo chiều dọc: Sự đồng thuận của Avalanche
Sự đồng thuận của Avalanche
Hãy đi sâu hơn vào sự đồng thuận của Avalanche, chúng ta có thể dùng hình ảnh sân vận động để minh họa giao thức đồng thuận này.
Hãy tưởng tượng rằng anh em đang ở trong một sân vận động với hàng nghìn người và mục tiêu là đạt được sự đồng thuận về việc ủng hộ đội nào. Sân vận động lớn và đông đúc, để tìm hiểu về sở thích của đa số:
(1) Anh em quyết định hỏi năm người ngẫu nhiên gần đó về sở thích của họ.
(2) Nếu > 3 người bỏ phiếu cho đội xanh lam thì bạn sẽ thêm tín nhiệm cho đội xanh lam và ngược lại.
(3) Anh em thực hiện quy trình lấy mẫu này lặp đi lặp lại để tăng mức độ tin cậy.
(4) Mỗi người trong sân vận động sẽ làm những điều tương tự.
(5) Mỗi vòng tiếp theo sẽ xây dựng dựa trên động lượng của bên ưu tiên, giống như động lượng hình thành một quả cầu tuyết khi nó lăn từ đỉnh xuống dưới chân núi và với hiệu ứng như vậy sẽ dẫn đến một trận tuyết lở.
Như vậy, Avalanche Consensus là một giao thức leaderless BFT protocol, để đạt được sự đồng thuận, một node validator chỉ có thể truy vấn một số lượng nhỏ các node, thay vì giao tiếp với tất cả các node. Do đó, điều này có thể đạt được sự đồng thuận với tốc độ cực nhanh và độ chính xác cao.
Ngoài hiệu suất cao đạt được thông qua việc lấy mẫu, Avalanche cũng có đủ tính chất phi tập trung khi mức độ yêu cầu cấu hình thiết bị phần cứng vừa phải, mọi người đều có thể tham gia mạng chính bằng cách stake 2000 AVAX làm validator. Mạng hiện có hơn 1400 validator, và số lượng mạng con cũng đang ngày càng phát triển.
Giải pháp mở rộng theo chiều ngang: Mạng con Avalanche
Kiến trúc Avalanche
Avalanche có 3 chuỗi khối tích hợp sẵn: Exchain (X-Chain) , Platform (P-Chain) và Contract (C-Chain).
Đầu tiên là Exchain Chain hoặc X Chain. Nó xử lý việc minting và chuyển token trên mạng bao gồm cả chuyển AVAX coin. AVAX được sử dụng làm phí giao dịch và các phí giao dịch này sẽ được đốt cháy để giảm tỉ lệ lạm phát.
Chain thứ hai có tên là Platform Chain hoặc P Chain. Chain này sẽ điều phối tất cả các hoạt động liên quan đến xác thực mạng bao gồm staking và deligation. Muốn trở thành validator thì cần stake tối thiểu 2000 AVAX và người ủy quyền cần uỷ quyền tối thiểu là 25 AVAX. Phần thưởng staking khoảng 10% mỗi năm và thời gian unlock là 2 tuần. Ngoài ra P cũng cho phép tạo ra mạng con (Subnets), chúng cơ bản là các blockchain có thể tuỳ chỉnh và sẽ tận dụng các validator nodes của Avalanche
Chain thứ ba là Contract Chain hoặc C Chain, nơi chứa các hợp đồng thông minh. C chain sử dụng phiên bản sửa đổi của Ethereum Virtual Machine (EVM) cho các hợp đồng thông minh và TPS của nó được ước tính là gần 1500, hiệu suất này khá nhanh đối với giao dịch hợp đồng thông minh.
Mạng con (subnet) là viết tắt của Subnetwork và nó đại diện cho một tập hợp các validators đạt được sự đồng thuận về trạng thái của mạng. Một mạng con có thể được coi là lớp dưới cùng của stack và nhiều blockchains có thể tạo ra bên trên một subnet duy nhất. Có thể có nhiều chuỗi trên một subnet.
Blockchain chính của Avalanche được xác nhận và bảo mật bởi mạng chính (Primary Network). Mạng chính là một mạng subnet đặc biệt và dự án của các mạng con tùy chỉnh phải là thành viên của mạng chính bằng cách staking ít nhất 2000 AVAX.
Tại sao mạng con lại quan trọng?
Về lý thuyết, Avalanche cho phép tạo ra các mạng con vô hạn, đây là yếu tố quan trọng để mở rộng quy mô. Mỗi mạng con có thể riêng tư private (permissioned) hoặc công khai public (permissionless). Đối với khả năng tương tác chuỗi chéo (cross-chain), các chuỗi trong một mạng con cụ thể sẽ tương thích với nhau.
Khởi chạy các blockchains tùy chỉnh với mạng con Avalanche có 4 lợi ích chính:
1. Tính kinh tế
Triển khai trên một mạng con có nghĩa là anh em có thể tùy chỉnh token gas phi. Ví dụ như anh em có thể sử dụng AVAX hoặc thậm chí là token game riêng của riêng mình làm phí gas – phân phối token cho validator, đốt token, hoặc airdrop,…
2. Trải nghiệm người dùng
Việc chơi game phải liền mạch và chi phí rẻ. Mạng con sẽ giúp các ứng dụng trở loại bỏ vấn đề đắt đỏ do tắc nghẽn mạng, đảm bảo trải nghiệm mượt mà đến người dùng với chi phí phải chăng.
3. Yêu cầu cụ thể về ứng dụng
Các ứng dụng dựa trên blockchain khác nhau có thể yêu cầu validator phải có một số thuộc tính nhất định. Giả sử có một ứng dụng yêu cầu lượng lớn RAM hoặc sức mạnh của CPU. Mạng con có thể yêu cầu validator đáp ứng các yêu cầu phần cứng nhất định để ứng dụng không bị hiệu suất thấp do tốc độ của validator chậm.
4. Chính sách tuân thủ
Một số ví dụ về các yêu cầu tuân thủ bao gồm:
● Validator phải được đặt tại một quốc gia nhất định
● Validator phải vượt qua kiểm tra KYC / AML
● Validator phải có giấy phép nhất định
3. Use-case của mạng con
Ứng dụng use-case đầu tiên trên GameFi – Subnet đầu tiên trên Avalanche
DeFi Kingdoms và Crabada đã ra mắt mạng con subnet trên Avalanche và họ đã đạt được khối lượng giao dịch ấn tượng với mức phí giao dịch thấp. Với nhiều game sắp ra mắt như Ascenders, Shrapnel và Castle Crush, phí giao dịch của Avalanche sẽ gây áp lực giảm phát lên AVAX.
Phí gas sử dụng theo giờ – Nguồn Blockworks Research
a. DFK Chain
DeFi Kingdom là một game phổ biến kết hợp hình thức P2E với DeFi. Dự án bắt đầu trên blockchain Harmony và sau khi đạt được sự chú ý nhất định, nó đã bắt đầu mở rộng sang các chuỗi khác. Vào ngày 1/4/2022, Defi Kingdom đã công bố chính thức mở rộng sang chuỗi DFK mạng con Avalanche.
Hiệu suất: Tính đến ngày 14 tháng 4, tổng giao dịch tăng lên 2.5 triệu và TVL là 215 triệu đô la. Kể từ ngày ra mắt, lượng Tx tổng thể hàng ngày Avalanche đã tăng gần 30%, lượng người dùng tích cực tăng 10%. Token JEWEL của game sẽ được sử dụng cho tất cả các giao dịch của chuỗi, nâng cao tiện ích của JEWEL.
Runtime: Mạng con DFK sử dụng EVM tùy chỉnh, kết hợp với mô hình đồ DAGs (directed acyclic graphs) cho phép các chuỗi mở rộng quy mô vô hạn với chi phí không đáng kể.
Khả năng tương tác: vì Avalanche chưa công bố phương pháp tương tác chung giữa các chain nên việc truyền nội dung giữa mạng chính AVAX và chuỗi DFK được xử lý bằng cầu nối Synapse.
b. Crabada
Crabada là một game chế độ chiến đấu kiểu Axie phổ biến trong hệ sinh thái Avalanche, chiếm từ 15–40% phí gas trên Avalanche C.-chain. Gần đây, họ đã khởi chạy mạng con Swimmer Network.
Việc chuyển sang Swimmer Network đã giúp các nhiệm vụ khai thác (looting/ mining) do cộng đồng Crabada điều hành hiệu quả hơn. Người chơi đã ghi nhận mức phí giao dịch rẻ hơn và trải nghiệm tốt hơn, điều này cho thấy tiềm năng của mạng con đối với nhiều dự án trong tương lai.
Trong khi Crabada có token lạm phát TUS, tương tự như SLP của Axi nhưng nó có khả năng mang lại nhiều giá trị hơn. Crabada đang tìm kiếm tiềm năng để đưa các game nhỏ lên mạng con. (ví dụ: Snake City). Nếu ngày càng nhiều game sử dụng TUS cho game của họ, thì điều này sẽ mang lại giá trị nội tại cho token chính và mạng lưới của Crababa.
Mạng con với chức năng KYC
Lớp tính năng này được gọi là một tiền biên dịch (precompile). Về cơ bản, đó là một tính năng tùy chọn mà anh em có thể quyết định bật khi tạo mạng con EVM của riêng mình. Nhưng tính năng này hiện không khả dụng trên C-Chain.
Precompile cụ thể này cho phép người tạo mạng con subnet kiểm soát ai có thể gửi giao dịch đến mạng con của họ. Theo mặc định, các giao dịch từ các địa chỉ không xác định sẽ bị chặn. Chỉ những địa chỉ trong danh sách whitelist mới được phép. Quản trị viên được chỉ định có thể cập nhật whitelist sau khi khởi tạo.
Đây là bước đầu tiên để xây dựng một mạng con KYC / private subnet. Sau khi đặt nhà cung cấp KYC làm quản trị viên danh sách được phép, họ có thể cho phép mọi người tham gia sau khi đã vượt qua xác minh.
Các tính năng này cũng có rất nhiều tiềm năng trong một cộng đồng do xã hội quan tâm (ví dụ: FWB)
Người tạo mạng subnet có thể coi mạng con của mình như một cơ sở dữ liệu có thể ghi công khai, có thể ghi riêng tư.
Một nhóm nhỏ người dùng có thể phân phối rộng rãi một số dữ liệu ở định dạng phổ biến với các chỉ số và tích hợp công khai.
Các trường hợp use-case dành cho doanh nghiệp – Ngoài GameFi, ngoài Web 3.0
Một trong những mục tiêu của Ava Labs là áp dụng các đổi mới trên tiền điện tử cho các doanh nghiệp truyền thống. Bằng cách kết hợp hai thế giới này, Ava Labs hướng đến mục tiêu làm tất cả các giao dịch trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn.
“Làm việc với Mastercard cho chúng tôi cơ hội mang lại lợi ích của blockchain cho người tiêu dùng thông thường”– Chủ tịch Ava Labs John Wu
Một số doanh nghiệp đang xây dựng trên nền tảng như Deloitte, Togg và Lemonade . Những tính năng functionality này vẫn đang được triển khai và chúng ta nên chờ đợi kết quả trong thời gian tới.
Các ví dụ khác về use-case sử dụng mạng con:
Chuyên về phân chia và bán tài sản tương ứng với bất động sản, nơi validators phải lưu trữ liệu tài sản off-chain. (Các Dapp có khả năng áp dụng các giải pháp mạng con subnet: Retok Finance)
Đối với các ứng dụng hiệu suất rất cao, mạng con subnet có thể validators cần lượng RAM lớn hoặc sức mạnh CPU cho các ứng dụng cần 10,000 TPS trở lên.
Các mạng Private subnets tự như các blockchain doanh nghiệp như JP Morgan’s Quorum, R3’s Corda và hyperledger, nơi quyền truy cập bị hạn chế và nội dung của blockchain chỉ hiển thị cho những người trong cuộc.
Các blockchain hiện tại có thể chuyển trạng thái của mình sang Avalanche và sử dụng cơ chế đồng thuận của nó để đạt hiệu suất nhanh hơn, tăng cường bảo mật. Vì vậy, các blockchain như Bitcoin Cash, Ethereum classic đều có thể có mạng con riêng và sử dụng POS, sử dụng đồng native token làm tiền staking. Đã có phiên bản Avalanche của Zcash trên mạng con subnet.
Phân tích tính cạnh tranh của Avalanche với những blockchain khác
So sánh với các blockchain L1s: Cosmos, BNB, Avalanche
Khi mọi người nhận ra sức mạnh của mạng con subnet, sự cạnh tranh trong không gian này đã trở nên khốc liệt hơn:
● BNB đã thông báo ra mắt Binance Application Sidechain(BAS) vào ngày 29 tháng 3.
● Avalanche ra mắt chuỗi DFK mạng con subnet đầu tiên của mình vào ngày 1 tháng 4.
● Polygon đã cam kết dành 100 triệu đô la cho Supernets dưới dạng Blockchains dành riêng cho ứng dụng layer 1 vào ngày 22 tháng 4.
Để hiểu rõ hơn về mạng con Avalanche, anh em có thể tham khảo bảng bên dưới.
Mỗi giải pháp mở rộng quy mô theo chiều ngang được mô tả ở trên thực sự đi kèm với các lựa chọn thiết kế và sự cân bằng của riêng nó.
1. Chi phí đồng thuận so với An toàn so với Khả năng mở rộng
Các giao thức đồng thuận cổ điển (ví dụ: PBFT, Tendermint / Cosmos) dựa trên quá trình bỏ phiếu. Để đạt được hiệu suất nhanh hơn và chi phí giao tiếp thấp hơn, các mạng thường giới hạn validator của họ trên mạng (BSC dựa vào 21 validators; Cosmos có 150 validators), do đó họ phải hy sinh sự phân quyền.
2. Yêu cầu node so với khả năng mở rộng
Để làm cho hệ thống mang tính “permissionless” nhất có thể, các yêu cầu tối thiểu để chạy một node phải tương đối thấp. Tuy nhiên, khi các yêu cầu về node được giảm xuống, sức mạnh tính toán tổng hợp trên mạng sẽ giảm. Để đổi lấy hiệu suất cao hơn, một số blockchain sẽ tăng các yêu cầu về node. Đối với Solana, chi phí xác thực cần chi phí lên đến vài ngàn đô vì validator cần thiết bị có 12 core CPUs, RAM ít nhất 128 GB và dung lượng lưu trữ khổng lồ; Đối với validator trên BSC thường yêu cầu 48 GB RAM và 12 cores of CPU.
a. Ưu điểm của Avalanche
Avalanche cung cấp giải pháp cho những đánh đổi này bằng cách đi tiên phong trong một giao thức đồng thuận mới. Đối với vấn đề phức tạp về massage, Avalanche đồng thuận đảm bảo rằng, bằng cách tiến hành lấy mẫu con lặp đi lặp lại, số lượng tin nhắn nhận được trên mỗi node cho mỗi vòng vẫn không đổi, bất kể số lượng người tham gia. Về yêu cầu node, validator chỉ cần yêu cầu phần cứng không cao (2 cores, 4 GB memory) và nó không sử dụng lượng năng lượng quá lớn.
Ngoài sự đồng thuận, Avalanche còn có những ưu điểm sau:
● Khả năng tương thích cao: Avalanche hỗ trợ EVM, AVM, WASM và VM tùy chỉnh, vì vậy các nhà phát triển mạng con subnet có thể chuyển các phần lớn của cơ sở code hiện có vào dự án mới mà không tốn nhiều công sức. Các mạng con subnet cũng có thể sử dụng máy ảo Avalanche để xây dựng máy ảo của riêng mình. Mặc dù các nhà phát triển đang tạo một máy ảo mới, họ vẫn có thể chọn tạo một mạng con subnet thay vì khởi chạy một L1 riêng biệt, vì Avalanche đã xử lý các khía cạnh khó khăn nhất của việc khởi chạy một blockchain mới, cung cấp công cụ đồng thuận, bảo mật và hiệu ứng mạng.
● Mạng con Avalanche là mạng duy nhất hiện đang hoạt động: Bằng chứng đầu tiên về điều này là DFK Chain. Vào ngày đầu tiên ra mắt, mạng này đã tăng khối lượng Tx lên 30% và mạng lưới vẫn được đảm bảo.
● Cấu trúc chồng chéo liên kết mạng con: Hiện tại, hầu hết các L1 như Avalanche, Solana và Cosmos, thu hút validator bằng cách cung cấp phần thưởng staking. Câu hỏi đặt ra là, trong 50 năm nữa, làm cách nào để chúng ta đảm bảo rằng mạng lưới sẽ vẫn được duy trì khi tốc độ phát thải token giảm xuống và phần thưởng staking cũng giảm? Một câu trả lời cho điều này có thể là phí giao dịch được tạo ra bởi việc sử dụng mạng. Đối với Avalanche, nó được thiết kế theo cách mà mạng chính luôn có thể thu hút các validator cùng với sự mở rộng của các mạng con, do đó mạng chính sẽ được duy trì lâu dài. Kiến trúc độc đáo này cũng mang đến cho Avalanche một không gian thiết kế lớn hơn và tiềm năng tương tác trong tương lai, điều mà các mạng khác không có được.
● Mô hình giảm phát đi đôi với các chính sách phát triển: Trong ngắn hạn, có rất nhiều công cụ để thúc đẩy sự tăng trưởng, chẳng hạn như Avalanche Multiverse, chương trình incentive Avalanche Rush đang diễn ra, quỹ hệ sinh thái Blizzard, phát triển mạng con subnet và quỹ Culture Catalyst. Các chương trình này sẽ thúc đẩy sự thích ứng của mạng Avalanche và tạo ra nhu cầu mạnh mẽ đối với đồng token AVAX. Về phía nguồn cung, việc ra mắt các mạng con sẽ dẫn đến lượng khóa thanh khoản trên thị trường và lượng giao dịch cao hơn cũng dẫn đến việc đốt phí gas nhiều hơn, tiếp tục làm giảm nguồn cung lưu thông.
b. Những thách thức trong tương lai
● Các công cụ dành cho nhà phát triển của Avalanche không thân thiện như Cosmos (Cosmos SDK) và BAS (SDK mô-đun). Về cơ bản, tất cả bên phát triển web 3.0 đều đang cạnh tranh để giành được nguồn dev đang rất hạn chế, việc cung cấp các mô-đun và SDK có sẵn sẽ hấp dẫn hơn cho các nhà phát triển so với của Avalanche.
● Giải pháp tương tác của Avalanche vẫn chưa được công bố: Cosmos và BAS có giao thức chung cho việc giao tiếp liên chuỗi, nhưng ở thời điểm hiện tại, khả năng tương tác chuỗi chéo vẫn là mối quan tâm lớn đối với mạng con Avalanche nhằm mở rộng quy mô và phát triển.
So sánh với L2 Rollups
Ngoài các trận chiến trong L1, sự cạnh tranh giữa các layer khác nhau cũng nên được cân nhắc. Ví dụ so sánh Avalanche với các giải pháp L2.
Phân biệt mạng con subnet với các dự án L2
Avalanche hỗ trợ tất cả các máy ảo, bao gồm EVM, AVM, WASM hoặc máy ảo tùy chỉnh, vì vậy các nhà phát triển có thể chuyển code từ các chuỗi khác mà không cần nỗ lực thêm. Optimistic Rollup tương thích với EVM vì OVM cho phép triển khai logic hợp đồng thông minh tùy ý. Đối với ZK Rollup, mọi thứ hơi phức tạp, không có giải pháp trực tiếp nào cho khả năng tương thích với EVM và mọi người đang làm việc trong nhiều năm để giải quyết vấn đề này. Có hai người chơi chính trong ZK Rollup: StarkWare và zkSync. StarkWare hiện đang triển khai CairoVM yêu cầu các nhà phát triển viết bằng một ngôn ngữ mới (Cairo) và một trình chuyển tiếp (Warp) được thiết kế để giúp các nhà phát triển dịch Solidity sang Cairo. ZkSync đã ra mắt mạng thử nghiệm 2.0 triển khai zkEVM thân thiện với ZK Rollups và dự kiến sẽ tương thích với EVM.
Một ưu điểm khác của Avalanche là dễ dàng triển khai. Các nhà phát triển có thể tạo một chuỗi trong vòng 12 giờ với Avalanche. Hiện có 19 blockchain đang hoạt động trên mạng chính của Avalanche và hơn 300 chuỗi hoạt động trong mạng thử nghiệm của Fuji. Ngược lại, ZKRollups có chi phí triển khai cao hơn, vì các bằng chứng mật mã zero-knowledge cryptographic yêu cầu nhiều tài nguyên tính toán. Ngay cả với các nhà cung cấp dịch vụ node, các nhà phát triển cần phải học ngôn ngữ mới (hoặc sử dụng trình chuyển tiếp) để xây dựng Dapps trong ZK.
L2 không hy sinh tính bảo mật của chuỗi chính vì nó vẫn dựa vào chuỗi chính để xác minh việc thực thi.
Avalanche không có mô hình bảo mật chia sẻ như vậy (shared security model). Tuy nhiên, bảo mật được chia sẻ có thể không phải là một tính năng mong muốn trong nhiều trường hợp. Niềm tin của bạn gắn bó với người khác không phải là điều đáng mong đợi nếu như người khác gặp vấn đề, cụ thể như chuỗi chính gặp trục trặc.
Sự khác biệt chính khác giữa mạng con Avalanche và EVM layer 2 là sự phân mảnh của thanh khoản
Thay vì có một chuỗi, L2 phá vỡ tính thanh khoản trên chuỗi thành nhiều hệ thống khác nhau. Người dùng bây giờ phải truy cập và tương tác với từng chuỗi này. Ví dụ: dYdX, bởi vì nó ở layer 2, không thể tương tác với các khoản vay flash ở một nơi khác. Vấn đề không chỉ ở việc thanh khoản bị phá vỡ, mà bản thân giao thức cũng khác, và anh em không thể tự động chuyển từ cái này sang cái kia.
Với tính thanh khoản thống nhất trong hệ sinh thái mạng con Avalanche, tiền có thể di chuyển giữa các mạng con và C-chain sẽ được sử dụng. AVAX được đốt cháy cho mỗi lần di chuyển cross-chain. Chuyển tiền từ Swimmer Network sang chuỗi DFK yêu cầu AVAX, đây cũng là yếu tố tăng lượng demand cho token AVAX.
Avalanche có một hệ sinh thái rất lớn với hơn 500 dự án được xây dựng trên đó. Anh em có thể tham khảo hình bên dưới.
Hệ sinh thái Avalanche – Nguồn Coin98
Định giá
Quay trở lại việc so sánh ban đầu rằng các blockchain giống như các thành phố hoặc quốc gia. Giá trị cốt lõi của mạng blockchain phải là khả năng trau dồi sự đổi mới, điều này có thể được phản ánh một phần thông qua nhu cầu sử dụng mạng, hệ sinh thái nhà phát triển và tổng giá trị đã khóa (TVL).
Các chỉ số có màu sắc khác nhau là bội số định giá. Màu đỏ sẫm có nghĩa là nhà đầu tư đang thổi phồng về dự án. Vì vậy, họ muốn trả phí bảo hiểm cao hơn cho mỗi đơn vị giá trị mà mạng thu được. Như chúng ta có thể thấy, bội số định giá tương đối thấp kể từ Q4 năm 2021, điều này một phần là do tâm lý chung của thị trường và một lý do quan trọng khác là bước vào Q3 Avalanche đã có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng về việc sử dụng mạng và có giá trị TVL tăng trưởng mạnh trong giai đoạn cuối năm 2021.
Kết luận
Tóm lại, Avalanche cung cấp cho các nhà phát triển giải pháp mở rộng quy mô tương thích EVM có thể mở rộng, thiết thực và dễ tiếp cận. Avalanche có thể là những dự án tiên phong đưa ra ý tưởng về mạng con, nhưng nó sẽ không phải là người duy nhất. Tuy nhiên, với cơ chế đồng thuận cải tiến, thiết kế độc đáo trong kiến trúc blockchain, đội ngũ phát triển nhiều kinh nghiệm, sự ra mắt thành công của chuỗi DFK, Swimmer Network,…chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng vào tiềm năng bùng nổ của Avalanche trong thời gian sắp tới.
Là một trong những sáng kiến lấy cảm hứng từ tiền điện tử trong mối quan hệ đối tác với Oracle Red Bull Racing, Bybit đã tạo ra #BybitLevelUpChallenges, loạt video về tài sản kỹ thuật số và công nghệ trong đua xe, có sự tham gia của tay đua Max Verstappen và Sergio ‘Checo’ Pérez của Oracle Red Bull Racing F1.
Trong tập mới nhất, Max và Checo đã mở cuốn từ điển Crypto-Racing và tham gia “Thử Thách Crypto Slang” của Bybit, cách mở đầu để tìm hiểu ý nghĩa của các thuật ngữ giao dịch tiền điện tử như “HODL”, “Phí Gas”, “Bear Market” , “Fiat on-ramp” hoặc mục yêu thích của họ, “When Lambo”.
DUBAI, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, ngày 31/5/2022 – Bybit, một trong những sàn giao dịch tiền điện tử phát triển nhanh nhất thế giới, đã công chiếu “Thử Thách Crypto Slang”, tập thứ hai của loạt bài lấy cảm hứng từ tiền điện tử #BybitLevelUpChallenges. Được xem như hướng dẫn dành cho người mới bắt đầu để mở đường cho những người tò mò về tiền điện tử theo những cách liên quan đến những người hâm mộ đua xe, tập phim mới có các tay đua Oracle Red Bull Racing, Max Verstappen (Nhà vô địch thế giới đua xe Công Thức 1 năm 2021) và Sergio ‘Checo’ Pérez trong thử thách khóa học để giải mã các thuật ngữ và tiếng lóng về giao dịch tiền điện tử mới nhất, phổ biến nhất trong cả thế giới tiền điện tử và đua xe. Tập phim đã chỉ ra cả hai ngành công nghiệp này có rất nhiều điểm chung.
Được công chiếu độc quyền trên Bybit Race Insider và các kênh mạng xã hội chính thức của Bybit (Twitter, Facebook, Instagram, LinkedIn), người hâm mộ có thể khám phá hiệu suất của tay đua khi tìm hiểu ý nghĩa của các thuật ngữ giao dịch tiền điện tử như “HODL”, “Gas Fees” , “Bear Market”, “Fiat on-ramp” hoặc mục yêu thích của họ, “When Lambo”.
Từ điển Crypto-Racing, do Bybit tạo ra để giúp người hâm mộ F1 cũng như những người đam mê tiền điện tử hiểu các thuật ngữ liên quan có thể áp dụng trong cả thế giới tiền điện tử và đua xe
Các tay đua F1 cực kỳ cạnh tranh và tự tin về bản chất và cả Max và Checo đã thể hiện điều đó trong Thử Thách Crypto Slang, khi họ cố gắng đoán ý nghĩa của các thuật ngữ và từ viết tắt liên quan đến giao dịch tiền điện tử, đồng thời thiết lập các điểm tương đồng bằng cách sử dụng các thuật ngữ đó trong giới đua xe. Kết quả là: Các tay đua Oracle Red Bull Racing hiện đã có thêm nhiều kiến thức hơn qua các tài liệu tham khảo về tiền điện tử.
Các đoạn trích từ tập mà cả Max và Checo đều cố gắng giải mã tiếng lóng và tài liệu tham khảo về tiền điện tử
Trong cuộc đua để trở thành Bybit Insider, các tay đua Oracle Red Bull Racing đã thực hiện thử thách đoán và đánh giá ý nghĩa của các cụm từ như “phí gas” (phí giao dịch blockchain), “vị thế” (giao dịch) hoặc “fiat on-ramp” (một tham chiếu cho việc chuyển đổi tiền fiat thành tiền điện tử). Những người đam mê tiền điện tử cũng như người hâm mộ F1 đều được một trận cười sảng khoái, khi Max và Checo đã thử sức (và có cả may mắn) để đoán ý nghĩa của các từ viết tắt như ATH (all-time high) và FUD (fear, uncertainty and doubt).
Khi những tay đua được yêu cầu đoán ý nghĩa của “HODL” (từ viết tắt của “hold on for dear life”, một cụm từ được những người đam mê tiền điện tử sử dụng đề cập đến cách tiếp cận lâu dài đối với tiền điện tử), nhà vô địch thế giới đua xe Công Thức 1 năm 2021, Max Verstappen nhanh chóng tuyên bố “hãy giữ vững lập trường của bạn”, cho thấy anh đã nắm được một số thuật ngữ đầu tư.
Khi các tay đua được hỏi về thuật ngữ “diamond hands”, Verstappen ngay lập tức trả lời “đó là Checo”, và Max đã đúng theo một cách nào đó, vì những người đam mê tiền điện tử sử dụng cụm từ này để nói về khả năng chấp nhận rủi ro cao khi giao dịch và đầu tư – điều này có một số điểm tương đồng với những chiến lược xuất sắc của Checo đã mang lại cho anh ta danh hiệu “Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng”.
Checo thể hiện kiến thức của mình “Là nơi mọi thứ thực sự tồi tệ trên thị trường” khi được hỏi về ý nghĩa của thuật ngữ “bear market”.
Nhưng có lẽ phần thú vị nhất của thử thách là khi Max và Checo được yêu cầu đoán ý nghĩa của cụm từ “When Lambo?” khi Max nhanh chóng trả lời “khi nào nên tỏa sáng trên đường phố… hãy thể hiện”, trong khi Checo nói thêm, “bạn đã rất làm tốt trong lĩnh vực tiền điện tử, và bạn phải thể hiện nó”.
Trước khi bắt đầu mùa giải Công Thức 1 năm 2022, Bybit đã trở thành Đối Tác Chủ Lực độc quyền của Oracle Red Bull Racing, Đối Tác Giao Dịch Tiền Điện Tử, Đối Tác Phát Hành Token của người hâm mộ và Đối Tác Ươm Mầm Công Nghệ. Giờ đây, cả người hâm mộ tiền điện tử và đua xe đều có thể mong chờ nhiều nội dung độc quyền hơn và các sáng kiến thú vị chỉ có tại Bybit Race Insider – hãy xem để cập nhật những gì Max và Checo có thể làm cùng với Bybit!
Với tư cách là Đối Tác Phát Hành Token của người hâm mộ và Đối Tác Ươm Mầm Công Nghệ, Bybit sẽ hỗ trợ Oracle Red Bull Racing trong việc phân phối các bộ sưu tập tài sản kỹ thuật số ngày càng tăng cùng với các nỗ lực khác, vì vậy người hâm mộ hãy theo dõi để biết thêm nhiều điều bất ngờ trong tương lai gần nhé.
Bybit là một sàn giao dịch tiền điện tử được thành lập vào tháng 3 năm 2018, cung cấp một nền tảng chuyên nghiệp, nơi các nhà giao dịch tiền điện tử có thể tìm thấy một công cụ khớp lệnh cực nhanh, dịch vụ khách hàng tuyệt vời và hỗ trợ cộng đồng đa ngôn ngữ. Bybit cung cấp các dịch vụ giao dịch giao ngay và phái sinh đột phá, các sản phẩm mining và staking, thị trường NFT cũng như hỗ trợ API cho các nhà giao dịch lẻ và khách hàng tổ chức trên khắp thế giới, đồng thời phấn đấu trở thành nền tảng đáng tin cậy nhất thuộc phân khúc tài sản ảo mới nổi. Bybit tự hào là đối tác của đội đua xe Công thức 1 (F1), Oracle Red Bull Racing, các đội thể thao điện tử NAVI, Astralis, Alliance, Virtus.pro và Oracle Red Bull Racing Esports, và các đội bóng đá của hiệp hội Borussia Dortmund và Avispa Fukuoka.
Những thắc mắc liên quan đến truyền thông, vui lòng liên hệ: media@bybit.com
Để biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng truy cập: www.bybit.com
Đốt coin (burn coin) là quá trình loại bỏ vĩnh viễn coin/token khỏi nguồn cung lưu thông (circulating supply), làm giảm tổng nguồn cung.
Để giải thích điều này, chúng ta sẽ sử dụng Binance Coin làm ví dụ. Việc đốt BNB được lên kế hoạch diễn ra hàng quý cho đến khi còn lại 100,000,000 BNB, số lượng đốt chiếm 50% tổng số BNB từng được phát hành (200,000,000 BNB).
Số lượng BNB coin sẽ được đốt dựa trên số lượng giao dịch được thực hiện trên sàn giao dịch trong khoảng thời gian 3 tháng.
Tuy nhiên, có vẻ như vẫn còn một số lượng lớn người chưa hiểu rõ việc đốt coin được thực hiện như thế nào. Bài viết này nhằm mục đích cung cấp thông tin và các sự kiện đốt BNB Coin hàng quý.
Burn Coin được thực hiện như thế nào
Về cơ bản, quy trình đốt coin sẽ theo thứ tự sau:
Một người nắm giữ tiền điện tử sẽ call chức năng đốt coin (burn function).
Sau đó, hợp đồng thông minh sẽ xác minh rằng người đó có số coin trong ví của họ và số lượng coin là hợp lệ.
Nếu người đó không có đủ coin hoặc nếu số coin không hợp lệ thì chức năng burn function sẽ không được thực hiện.
Nếu số lượng hợp lệ thì số coin sẽ được trừ khỏi ví đó. Tổng nguồn cung của đồng coin sẽ giảm xuống so với ban đầu sau khi trừ đi lượng coin đã đốt.
Sau khi coin bị đốt, nó sẽ bị phá huỷ vĩnh viễn. Bằng chứng về việc đốt coin có thể dễ dàng được xác minh tại blockchain explorer.
Hợp đồng Binance Coin contract có một chức năng được gọi là burn function, nó có sẵn cho bất kỳ ai bất kỳ lúc nào. Bằng cách gọi hàm này, anh em có thể xóa vĩnh viễn một lượng tiền được đề cử khỏi nguồn cung lưu hành của mạng blockchain. Như đã đề cập ở trên, mọi sự kiện đốt coin đều được ghi lại dưới dạng giao dịch trên blockchain. Cơ chế đốt là minh bạch và bất kỳ ai cũng có thể xác minh. Lịch sử đốt BNB coin anh em có thể tham khảo tại đây.
Cơ chế Buyback and Burn – Mua lại và đốt coin/token
Buyback and Burn có thể hiểu đơn giản là việc mua lại token và đốt lượng token đó. Ưu điểm nổi bật nhất của cơ chế này là giúp giá token tăng trưởng bền vững về dài hạn và giúp nhà đầu tư có thêm niềm tin để hold.
Buyback and Burn làm tăng volume giao dịch và tăng thanh khoản, giúp giá token tránh có những pha biến động mạnh. Điều này cũng củng cố tính ổn định của giá token.
Nhưng câu hỏi bây giờ sẽ là: Bên nào và nguồn tiền nào sẽ mua lại coin/token để đốt?
Thông thường, các blockchain hoặc protocol sẽ trích một phần phí, lợi nhuận có được để mua lại token rồi đem đi đốt. Quá trình đốt có thể được lập trình ngay từ đầu hoặc thông qua các đề xuất được bỏ phiếu bởi cộng đồng.
Ví dụ nổi bật của Buyback and Burn: BNB Chain trích 20% lợi nhuận hàng quý để đốt BNB cho tới khi tổng cung trên thị trường còn 100 triệu BNB. Hơn nữa, BNB Chain có một đề xuất tên là BEP-95, đề xuất này sẽ trích một lượng BNB từ phí gas để burn ra khỏi nguồn cung.
Khi nào cần đốt coin?
Bởi vì đốt coin là hành động tự phát và không bắt buộc, nên mỗi dự án crypto sẽ có một chiến lược phát triển riêng.
Đối với những dự án có tokenomics được thiết kế chưa hợp lý khiến token chịu một áp lực đến từ lạm phát tăng cao thì có thể dùng cách đốt coin để giảm phát. Một trong những mục đích chính của đốt coin là cân bằng lợi ích giữa các bên khi họ giữ coin/token.
Ngược lại, có những dự án mới ra mắt token và chỉ có rất ít holder mà đã có cơ chế đốt coin riêng với mục đích để quảng bá. Khả năng rất cao dự án sẽ khó để đạt được thành công, vì đơn giản ở giai đoạn đầu thì việc đốt token gần như là vô nghĩa. Cách hợp lý nhất sẽ là khóa token với một khoảng thời gian trả dần để thị trường thích ứng cũng như có nhiều incentive hơn để phát triển.
Ethereum là một trong những dự án thành công nhất trong lĩnh vực tiền điện tử cho đến thời điểm hiện tại. Mặc dù vậy, Ethereum vẫn đang bị cản trở bởi các vấn đề xung quanh sự tắc nghẽn mạng như phí gas cao, khả năng mở rộng thấp và tốc độ giao dịch chậm. Rất nhiều blockchain layer 1 như Solana và Avalanche, BNB chain,… đã tìm cách giải quyết những vấn đề này bằng cách tạo ra các mạng mới và cải tiến cạnh tranh trực tiếp với Ethereum. Ngoài ra, nhiều giải pháp mở rộng layer 2 đang cạnh tranh khốc liệt bằng cách xây dựng các ứng dụng và hệ thống trên nền tảng Ethereum nhằm làm giảm bớt các vấn đề phải đối mặt. Một trong những dự án layer 2 như vậy là Loopring, dự án hướng tới cung cấp các sàn giao dịch phi tập trung (DEX) và hệ thống thanh toán DeFi với phí giao dịch thấp và khả năng mở rộng cao. Anh em cùng tham khảo bài viết bên dưới để có thêm thông tin về Loopring.
Loopring là gì?
Looping là dự án layer 2, được triển khai trên Ethereum. Loopring cung cấp một giao thức mô-đun mà DEX và các ứng dụng khác có thể được xây dựng trên đó. Bằng cách sử dụng công nghệ zkRollup, Loopring có thể xây dựng các sàn giao dịch không phải chịu các vấn đề liên quan đến phí gas đắt đỏ và có khả năng mở rộng cao. Loopring có thể đạt mức thông lượng lớn hơn gấp 1000 lần so với Ethereum trong khi phí giao dịch chỉ bằng một phần nhỏ.
Loopring gần đây đã tạo ra sàn giao dịch riêng của họ và các ứng dụng Loopring layer 2. Những dApps này là nền tảng thanh toán và giao dịch non-custodial với hiệu suất cao, được xây dựng trên giao thức Loopring, vận hành bởi team Loopring. Loopring cũng đã tạo ra ví thông minh Loopring Smart Wallet, ví trên Ethereum đầu tiên áp dụng công nghệ zkRollup và là một trong số ít ví sử dụng hệ thống khôi phục “social recovery system” thay vì khóa cá nhân (keypharse), chi tiết về tính năng này sẽ được trình bày ở phần bên dưới.
Loopring hoạt động như thế nào?
zkRollup
Chìa khóa để Loopring có khả năng cung cấp phí rẻ hơn và tốc độ nhanh hơn là việc họ sử dụng công nghệ Zero-Knowledge Rollups (zkRollups). zkRollups cho phép Loopring hoàn thành các tính toán off-chain, không phải trên Ethereum và sau đó gói hàng trăm giao dịch lại với nhau thành một giao dịch duy nhất được gửi ngược lại mạng Ethereum. Các giao dịch này sau đó được giải quyết trực tiếp trên mạng của Ethereum, nơi bằng chứng Zero-Knowledge Proofs được sử dụng để xác nhận xem các giao dịch off-chain có chính xác hay không.
Zero-Knowledge Proofs là một dạng mật mã phức tạp; tuy nhiên, giải thích đơn giản là chúng cho phép mạng xác nhận tính hợp lệ của các giao dịch mà không cần phải cung cấp bất kỳ thông tin nào liên quan đến các giao dịch.
Ví dụ: nếu người dùng A muốn gửi cho B 1000 đô la qua Ethereum, Zero-Knowledge Proofs có thể xác thực rằng người dùng đã thực sự gửi 1000 đô la mà không cần phải tiết lộ bất kỳ chi tiết nào về người gửi, số tiền đã gửi hoặc người nhận tiền. Bằng cách không tiết lộ thông tin, Zero-Knowledge Proofs có thể duy trì bảo mật nghiêm ngặt đồng thời giảm thiểu sức mạnh tính toán cần thiết.
Nhìn chung, bằng cách sử dụng công nghệ zkRollup, giao thức của Loopring có thể cung cấp các giao dịch rẻ, nhanh chóng và an toàn.
Phí giao dịch và DAO
Mặc dù Loopring không phải chịu phí gas cao như các dự án xây dựng trên Ethereum khác, nhưng Loopring vẫn có một số khoản phí mà người dùng phải trả. Các khoản phí giao dịch này phải được thanh toán bằng LRC, đồng native token của Loopring. Những khoản phí này khác với phí gas ở chỗ chúng rẻ hơn và được set ở một tỷ lệ phần trăm cố định không thay đổi dựa trên tình trạng sử dụng mạng. Sau khi Loopring thu các khoản phí này, 80% LRC thu được sẽ được phân phối cho các nhà cung cấp thanh khoản, 10% cho các công ty bảo hiểm và 10% cho Loopring DAO. DAO Loopring có quyền tự chủ về cách sử dụng các khoản phí mà họ đã thu. DAO có thể mua lại và đốt token, cung cấp các khoản tài trợ để phát triển mạng lưới.
Ứng dụng Loopring layer 2 là một DEX được xây dựng trên Ethereum và giao thức zkRollup của Loopring. DEX của Loopring là cầu nối giữa lợi ích của DEX với tính bảo mật của mạng Ethereum, giá rẻ và tốc độ của giao thức Loopring. Ứng dụng Loopring layer 2 cũng đóng vai trò như một hệ thống thanh toán phi tập trung cho phép người dùng gửi các token dạng ERC-20 và ETH một cách an toàn và rẻ từ ví này sang ví khác.
Ví Loopring Smart Wallet
Ví của Loopring được xây dựng bằng công nghệ zkRollup và cho phép ví cung cấp các giao dịch an toàn và miễn phí gas. Tuy nhiên, khía cạnh độc đáo nhất của ví là việc sử dụng khôi phục “social recovery” thay vì cụm từ keyphrase. Điều này có nghĩa là nếu người dùng mất quyền truy cập vào ví của họ (chẳng hạn như mất điện thoại mà ví được lưu trữ trên), thay vì phải sử dụng danh sách các cụm từ “keypharse” để khôi phục ví của họ – giống như hầu hết các ví truyền thống – thay vào đó họ có thể sử dụng một hệ thống xã hội “social recovery system”. Khi thiết lập ví, người dùng sẽ chỉ định một số cá nhân nhất định (chẳng hạn như bạn bè hoặc gia đình đáng tin cậy hoặc thậm chí là hệ thống máy tính AI) hoạt động như “người giám hộ – Guardians”. Khi người dùng mất ví, họ chỉ cần yêu cầu những “người giám hộ” này cho phép khôi phục và nếu 51% người giám hộ chấp thuận, người dùng có thể lấy lại quyền truy cập vào ví của họ. Hệ thống này về lý thuyết có thể an toàn hơn so với khôi phục dựa trên keyphrase, vì danh sách các cụm từ hạt giống có thể bị mất, bị đánh cắp, bị tấn công hoặc bị lãng quên. Tuy nhiên, việc khôi phục mạng xã hội vẫn có những rủi ro riêng mà người dùng phải lưu ý.
Team đứng sau Loopring?
Loopring được thành lập bởi Daniel Wang vào năm 2017. Daniel Wang tốt nghiệp đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc, nơi anh theo học ngành Khoa học Máy tính. Daniel sau đó theo học tại đại học Bang Arizona và có bằng bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh. Trước khi tạo ra Loopring, Daniel đã làm việc với tư cách là Kỹ sư phần mềm cao cấp cho Google cùng với một số công ty công nghệ có trụ sở tại Trung Quốc.
Đầu năm 2022, Daniel từ chức Giám đốc điều hành và được thay thế bởi Steven Guo, CTO cũ của Loopring. Steven Guo tốt nghiệp Tiến sĩ khoa học máy tính tại Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc vào năm 2005. Sau đó, Steven làm việc cho Intel với tư cách là kỹ sư phần mềm và trưởng nhóm công nghệ, trước khi chuyển đến Cheetah Mobile với tư cách là Giám đốc Kỹ thuật cấp cao. Năm 2018, Steve thành lập công ty blockchain Dora Network, trong đó tập trung vào việc phát triển tính toán Zero-Knowledge Proof. Steve sau đó tham gia Loopring với tư cách CTO, nơi anh và nhóm của mình từ Dora Network đã làm việc để xây dựng hệ thống zkRollup đầu tiên của Loopring.
Vào năm 2017, Loopring đã tiến hành bán ICO và huy động được 120,000 Ether (45 triệu USD vào thời điểm đó). Tuy nhiên, do các quy định thay đổi bên trong Trung Quốc, Loopring sau đó buộc phải hoàn trả khoảng 80% số tiền huy động được. Sau đó, Loopring nhận được đầu tư từ các công ty đầu tư mạo hiểm khác nhau như G2H2 Capital, NEO, Fund Basic Labs và Obsidian Capital.
Lịch sử giá Loopring
Trong phần lớn năm 2018, 2019 và 2020, Loopring giao dịch ổn định và không có nhiều sự tăng trưởng về giá. Tuy nhiên vào cuối năm 2021, Loopring đã tăng vọt hơn 700% về giá và đặt mức cao ATH 3.83 đô la. Sự tăng giá mạnh phần lớn được thúc đẩy bởi sự hợp tác của Loopring với GameStop (GME). Loopring hợp tác với GameStop để xây dựng sàn giao dịch NFT phi tập trung. Mối quan hệ hợp tác này đã mang lại cho Loopring một lượng lớn cơ hội tiếp xúc và cho phép Loopring nhận được sự hỗ trợ tài chính và hiệu ứng của đội ngũ các nhà đầu tư lớn của GameStop. Ngoài quan hệ đối tác GameStop, sự gia tăng vượt bậc của Loopring cũng có thể là do sự cường điệu ngày càng tăng xung quanh các giải pháp lớp 2.
Kể từ khi thiết lập ATH, Loopring đã giảm giá đáng kể 87% và hiện đang giao dịch ở mức 0.48 đô la. Sự sụt giảm này liên tục diễn ra cùng với bối cảnh thị trường tiền điện tử đang đi vào chu kỳ mùa đông.
Một yếu tố chính sẽ ảnh hưởng đến thành công trong tương lai của Loopring là liệu có còn nhu cầu về sản phẩm của họ hay không. Toàn bộ tiền đề của Loopring là cung cấp một hệ thống cải thiện các vấn đề của Ethereum. Tuy nhiên, với bản cập nhật sắp tới của Ethereum cho Ethereum 2.0 và những cải tiến dự kiến về tốc độ, phí và khả năng mở rộng, câu hỏi đặt ra là liệu có còn động lực lớn nào để người dùng xây dựng trên Loopring thay vì trực tiếp trên Ethereum hay không. Hơn nữa, sự gia tăng của rất nhiều mạng layer 1 khác như Avalanche, Solana, BNB Chain, Optimism, zksync và Hedera (HBAR),cũng tạo ra một vấn đề cho Loopring, vì họ đã có những incentive người dùng xây dựng nền tảng của họ trên các mạng khác thay vì Ethereum và Loopring. Vẫn còn phải xem những yếu tố này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến thành công của Loopring.
Lộ trình cho tương lai
Loopring có một số kế hoạch lớn cho năm 2022. Giờ đây, công nghệ zkRollup của họ đã được xây dựng và tối ưu hóa, ưu tiên mới của Loopring là tăng cường áp dụng và nhận thức về zkRollup cũng như các lợi ích của nó. Đội ngũ phát triển hy vọng sẽ làm được điều này bằng cách xây dựng nhiều dự án và sản phẩm hơn trên giao thức Loopring.
Loopring cũng đang triển khai thêm một số chức năng vào các sản phẩm và sàn giao dịch hiện có của họ. Dự án đang lên kế hoạch fiat on-off ram (chú thích on-ramp: cụm từ chỉ sự chuyển giao giá trị quy đổi giữa tiền fiat sang tiền điện tử và ngược lại) và tích hợp yield farming vào các sàn giao dịch để cho phép người dùng tìm kiếm thêm lợi nhuận.
Loopring đã tham gia vào không gian NFT và Metaverse thông qua việc ra mắt bộ sưu tập NFT và sự phát triển của Loopring HQ trên Decentraland.
Đầu năm 2022, Loopring và GameStop đã ký kết mối quan hệ hợp tác. Phiên bản beta GameStop NFT marketplace đã hoạt động; tuy nhiên, phiên bản đầy đủ chức năng sẽ chưa thể hoạt động cho đến cuối năm nay. Đây sẽ là một bước phát triển lớn giúp tạo ra sự công khai rộng rãi hơn nữa cho Loopring và điều này sẽ thúc đẩy nhiều việc tích hợp hơn nữa của Loopring và nhiều dự án khác.
Anh em có thể tham khảo thêm báo cáo cập nhật hoạt động của Loopring Q1 2022 tại đây.
Kết luận
Loopring là một dự án mở rộng layer 2 nhằm mục đích tạo ra một quy trình rẻ hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn cho các nền tảng DEX và DeFi được xây dựng trên Ethereum. Loopring cũng đã khởi chạy sàn giao dịch DEX và ví thông minh của riêng mình. Không gian layer 2 đang có sự cạnh tranh rất lớn và tương lai của Loopring không thể chắc chắn được điều gì, tuy nhiên, họ có những kế hoạch tương lai mạnh mẽ và có thể sẽ tiếp tục phát triển trong những năm tới.
Hội nghị đầu tư 2022 do Forbes Việt Nam tổ chức lần đầu tiên với chủ đề “Đồng tiền thông minh” chiều ngày 19/5 tại TP.HCM
TP.HCM, Việt Nam ngày 19/5/2022 – Forbes Việt Nam giới thiệu Bybit, một trong những sàn giao dịch tiền điện tử phát triển nhanh nhất thế giới, với tư cách là đối tác và một trong những nhà tài trợ chính cho Hội nghị đầu tư 2022.
Sự kiện Hội nghị đầu tư 2022 được tổ chức với chủ đề “Đồng tiền thông minh” cung cấp góc nhìn toàn cảnh về các kênh đầu tư cổ phiếu, bất động sản và tài sản số, đồng thời thảo luận về các sự kiện kinh tế trên thế giới diễn ra trong nửa đầu năm nay. Sự kiện hội tụ nhiều chuyên gia phân tích, nhà quản lý quỹ, chuyên gia bất động sản và những người tiên phong trong lĩnh vực tài sản số tại Việt Nam, chia sẻ những góc nhìn cận cảnh diễn biến thị trường, đồng thời đưa ra những dự báo hữu ích cho giới đầu tư.
Bức tranh kinh tế thế giới đầu nửa năm 2022 mang nhiều màu sắc khác nhau. Các nền kinh tế lớn phục hồi mạnh dựa vào các gói kích thích kinh tế trước đó hỗ trợ các chỉ số chứng khoán dao động trên vùng đỉnh. Nhưng gần như cùng thời điểm, các ngân hàng trung ương phát đi tín hiệu bắt đầu tăng lãi suất cơ bản, giảm các gói kích thích kinh tế. Trung tuần tháng 3/2022, FED- cục Dự trữ Liên bang (Mỹ) phát đi thông điệp tăng lãi suất sáu lần trong năm nay. Chuỗi cung ứng sản xuất hàng hóa vừa phục hồi một phần thì chiến tranh Nga- Ukraine xảy ra, đẩy giá dầu thô và nhiều loại nguyên liệu sản xuất lên đỉnh cao nhất trong 10 năm, gây áp lực lạm phát lên kinh tế toàn cầu và gây quan ngại về chiến tranh tiền tệ.
Công chúng ngày càng có cơ hội tiếp cận về công nghệ blockchain, tài sản NFT, vũ trụ ảo (metaverse),.. Tài sản kỹ thuật số trở thành kênh đầu tư sinh lời nhất trong thập niên qua nhưng cũng lại là kênh đầu tư rủi ro nhất. Trong phiên thảo luận Hiểu về tài sản số, các chuyên gia bàn luận trong lĩnh vực chia sẻ kinh nghiệm và thảo luận về diễn biến tương lai đầy biến động của thị trường hấp dẫn này.
Ông Igneus Terrenus – giám độc truyền thông của Bybit phát biểu:
“Bybit rất vinh dự và tự hào khi được đồng hành cùng Forbes tham gia sự kiện Hội nghị đầu tư 2022. Tôi có thể nói Việt Nam là một trong số những quốc gia đi đầu trong việc sử dụng tài sản kỹ thuật số như một công cụ đầu tư sinh lời. Bybit luôn luôn nhắc nhở và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trau dồi kiến thức để đảm bảo một sân chơi bình đằng và toàn diện. Thông qua việc tài trợ những sự kiện chia sẻ kiến thức như Forbes Việt Nam, hay kết hợp với UNICEF cung cấp chương trình giáo dục STEAM do Bộ Giáo dục phát triển cho các trẻ em gái có hoàn cảnh khó khăn ở Việt Nam, Bybit cam kết trở thành đơn vị cung cấp kiến thức và là điểm đến đáng tin cậy cho tất cả nhà đầu tư trên Thế Giới và Việt Nam”.
Bybit là một sàn giao dịch tiền điện tử được thành lập vào tháng 3 năm 2018, cung cấp một nền tảng chuyên nghiệp, nơi các nhà giao dịch tiền điện tử có thể tìm thấy một công cụ khớp lệnh cực nhanh, dịch vụ khách hàng tuyệt vời và hỗ trợ cộng đồng đa ngôn ngữ. Bybit cung cấp các dịch vụ giao dịch giao ngay và phái sinh đột phá, các sản phẩm mining và staking, thị trường NFT cũng như hỗ trợ API cho các nhà giao dịch lẻ và khách hàng tổ chức trên khắp thế giới, đồng thời phấn đấu trở thành nền tảng đáng tin cậy nhất thuộc phân khúc tài sản ảo mới nổi. Bybit tự hào là đối tác của đội đua xe Công thức 1 (F1), Oracle Red Bull Racing, các đội thể thao điện tử NAVI, Astralis, Alliance, Virtus.pro và Oracle Red Bull Racing Esports, và các đội bóng đá của hiệp hội Borussia Dortmund và Avispa Fukuoka.
Những thắc mắc liên quan đến truyền thông, vui lòng liên hệ: media@bybit.com
Để biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng truy cập: www.bybit.com
Blockchain Terra 2.0 đã chính thức đi vào hoạt động, hồi sinh lại dự án tiền mã hóa đã từng đổ sập cách đây 2 tuần, lần này không còn stablecoin thuật toán.
Trên Twitter, Giám đốc điều hành Terraform Labs Do Kwon đã tuyên bố blockchain mới của Terra đã ra mắt hôm nay lúc 6 giờ sáng theo giờ UTC và hiện đang tạo ra các block.
Pheonix-1 mainnet is now live and producing blocks – public node services, wallets and explorers should be going live shortly. pic.twitter.com/cpxiNKl6aX
Chain mới này nhằm mục đích hồi sinh hệ sinh thái Terra sau khi stablecoin thuật toán UST thất bại. Sự sụp đổ của Luna và UST của Terra đã xóa sổ khoảng 40 tỷ USD giá trị thị trường.
Sau thất bại, Terraform Labs, công ty phát triển cốt lõi đằng sau Terra, và Do Kwon đã đề xuất một blockchain mới. Và chỉ mất vài ngày sau khi đề xuất đó được thông qua để Do Kwon triển khai một chain khác.
Một số ứng dụng hiện đã chuyển sang chain mới, bao gồm Astroport, Prism, RandomEarth, Spectrum, Nebula, Terraswap, Edge Protocol và một số ứng dụng khác.
Trước khi ra mắt ngày hôm nay, ban quản trị Terra đã bỏ phiếu thay đổi tên của network ban đầu thành “Terra Classic”, có token hiện được gọi là LUNA Classic (LUNC), để đặt Terra 2.0 mới ra mắt là mạng chính.
Không giống như phiên bản cũ, chain mới của Terra sẽ hoạt động mà không có stablecoin thuật toán và chỉ đi kèm với LUNA mới có tổng nguồn cung cố định là 1 tỷ.
Lưu ý: các token LUNA 2.0 này sẽ giao dịch riêng biệt với các token LUNA Classic ban đầu.
Khía cạnh đáng chú ý nhất của buổi ra mắt ngày hôm nay là airdrop các đồng LUNA mới cho các bên liên quan của Terra trên chain mới. Hiện đã có nhiều sàn giao dịch tuyên bố hỗ trợ việc airdrop như Huobi, Binance, Bitfinex, Bitrue, HitBTC, FTX, Bybit, Gate.
Theo một thông báo trên medium, số lượng airdrop LUNA 2.0 mà mỗi người nhận được sẽ khác nhau tùy thuộc vào việc những token đó được giữ trước hay sau khi UST sụp đổ. Anh em có thể tham khảo thêm thông tin phân bổ token tại đây.
Bên cạnh 700 triệu token LUNA mới sẽ được chia cho các nhà đầu tư, nhóm cộng đồng phát triển của Terra, cũng sẽ nhận được 30%, tức 300 triệu LUNA mới trên chain Terra 2.0.
Theo ban quản trị cộng đồng phát triển của Terra, số tiền này sẽ được dùng để tài trợ cho các hoạt động sau này trong hệ sinh thái và cũng là nguồn tiền dùng để hỗ trợ cho các nhà phát triển đã quyết định ở lại và xây dựng lại trên chain Terra mới.